Vi bằng giao thông báo yêu cầu tiếp tục thực hiện hợp đồng

???Thừa phát lại Đồng Tháp ghi nhận việc giao thông báo yêu cầu tiếp tục thực hiện hợp đồng???
?Đây là căn cứ chứng minh một trong các bên đã vi phạm hợp đồng để bên còn lại có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng (Trong trường hợp hợp đồng có nêu việc một trong các bên có quyền đơn phương chấp dứt hợp đồng khi bên còn lại vi phạm thoả thuận)
?Là nguồn chứng cứ để khởi kiện ra toà án yêu cầu bồi thường theo đúng hợp đồng, yêu cầu bồi thường thiệt hại (nếu có).
Mọi chi tiết xin liên hệ:
– Số điện thoại: 0913882312 hoặc 0888845755
– Địa chỉ: số 02, Quốc lộ 30, phường Mỹ Phú, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

VAI TRÒ CỦA VI BẰNG GHI NHẬN CÁC GIAO DỊCH BẰNG GIẤY VIẾT TAY

Giá trị của vi bằng là việc vi bằng ghi nhận các hành vi, sự kiện mà thừa phát lại trực tiếp chứng kiến; mà hành vi, sự kiện đó chỉ là một phần hoặc một giai đoạn để tiến hành thỏa thuận, không phải cơ sở để thực hiện việc xác lập, thay đổi, chấm dứt các

Hợp đồng mua bán, chuyển nhượng tài sản bằng giấy viết tay hiện nay khá phổ biến trong xã hội, dù bản thân giao dịch tiểm ẩn khá nhiều rủi ro đối với người nhận chuyển nhượng. Bởi do không công chứng hợp đồng, người bán có thể tiếp tục thực hiện các giao dịch khác với tài sản.

Nhiều trường hợp do không có bằng chứng về giao nhận tiền và tài sản, dẫn tới tranh chấp khó giải quyết và xảy ra thiệt hại cho các bên.

Để hạn chế rủi ro, các bên có thể lựa chọn công chứng hợp đồng tại các tổ chức hành nghề công chứng, hoặc tiến hành lập vi bằng tại Văn phòng thừa phát lại để ngăn chặn cũng như giải quyết các tranh chấp, giúp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức. Tuy nhiên, khác với vi bằng, công chứng là việc công chứng viên chứng kiến và công nhận tính xác thực của các thỏa thuận, văn kiện, giấy tờ, hợp đồng dân sự theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức. Giá trị của vi bằng là việc vi bằng ghi nhận các hành vi, sự kiện mà thừa phát lại trực tiếp chứng kiến; mà hành vi, sự kiện đó chỉ là một phần hoặc một giai đoạn để tiến hành thỏa thuận, không phải cơ sở để thực hiện việc xác lập, thay đổi, chấm dứt các quyền, nghĩa vụ của các bên. Hay nói cách khác, vi bằng do thừa phát lại lập có giá trị chứng minh việc các bên đã giao nhận tiền, giao nhận giấy tờ, nhà đất… làm cơ sở để các bên tiếp tục thực hiện hợp đồng, hoàn thiện hợp đồng theo quy định của pháp luật, và trở thành chứng cứ trước tòa án nhằm bảo đảm công bằng lợi ích của các bên.

Chẳng hạn, nhà đất giao dịch bằng giấy tay là một hiện tượng khá phổ biến trong xã hội hiện nay. Một số giao dịch các bên nhờ Thừa Phát Lại lập vi bằng để ghi nhận việc giao nhận tiền, giấy tờ, tài sản… hoặc ghi nhận buổi làm việc của các bên về việc thực hiện chuyển nhượng; vi bằng không thay thế văn bản công chứng, không dùng để sang tên, đổi chủ.

Để giảm thiểu rủi ro, các bên nên tạo lập chứng cứ về việc giao nhận tiền, giấy tờ để thực hiện hợp đồng mua bán giấy tay đó. Việc lập vi bằng này không trái với quy định của pháp luật, nhưng chỉ có ý nghĩa phòng ngừa rủi ro, và tạo lập chứng cứ khi xảy ra tranh chấp.

Mọi yêu cầu lập Vi bằng xin liên hệ:

Văn phòng Thừa phát lại Đồng Tháp

Số 02, Quốc lộ 30, phường Mỹ Phú, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

Hotline: 02773.88.15.66 hoặc 0913.882.312

VĂN PHÒNG THỪA PHÁT LẠI ĐỒNG THÁP TỔNG KẾT HOẠT ĐỘNG NĂM 2020

???Văn phòng Thừa phát lại Đồng Tháp tổng kết hoạt động năm 2020???
?Xin cám ơn quý Cơ Quan, quý Khánh Hàng và quý Doanh Nghiệp đã đồng hành cùng Văn phòng Thừa phát lại Đồng Tháp trong năm vừa qua.
?Năm mới xin chúc cho quý Cơ quan, khánh hàng và doanh nghiệp vạn sự như ý.
?Xin chân thành cảm ơn!???

LẬP VI BẰNG GHI NHẬN VIỆC LẬP DI CHÚC ĐỂ LẠI TÀI SẢN TRƯỚC KHI CHẾT

Có khách hàng xin được giấu tên đến hỏi Văn phòng như sau:
Tôi năm nay tuổi đã cao, cộng thêm với sức khỏe yếu nên nhân lúc tinh thần còn minh mẫn. Tôi muốn lập di chúc phân chia tài sản của mình một cách rõ ràng cho các con của tôi để tránh trường hợp sau khi tôi qua đời lại phát sinh tranh chấp giữa các thành viên trong gia đình. Các tài sản mà tôi muốn lập di chúc gồm có: Quyền sở hữu, sử dụng nhà ở, các công trình xây dựng và cây cối trên diện tích 350 m2 đất ở và 420 m2 đất. Toàn bộ tài sản trên thuộc quyền sở hữu, sử dụng của tôi. Do đó, tôi muốn chia cho các con của mình theo diện tích đất thực tế.
Vậy thì, việc lập di chúc của tôi có cần phải công chứng hoặc chứng thực không? Nếu trong trường hợp mà không cần công chứng hoặc chứng thực mà tôi muốn ghi nhận hành vi lập di chúc của mình để lường trước các rủi ro sau này thì nên làm thế nào?

Cảm ơn Bác đã gửi thắc mắc đến Văn phòng chúng tôi, tình huống của Bác chúng tôi xin được giải đáp như sau:
Theo Điều 624 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết”. Nhắc đến lập “Di chúc” ẳc hẳn nhiều người chưa quen với việc này nhiều tình huống khi qua đời việc phân chia tài sản thừa kế có thể nảy sinh mâu thuẫn khó có thể lường trước được. Tuy nhiên, khi đã lập xong di chúc rồi thì có cần cần bắt buộc phải công chứng hoặc chứng thực không? Câu trả lời nằm tại Điều 635 Bộ luật dân sự năm 2015: “Người lập di chúc có thể yêu cầu công chứng hoặc chứng thực bản di chúc”. Nói cách khác đối với di chúc không bắt buộc phải công chứng hay chứng thực, nhưng nếu muốn ghi nhận hành vi lập di chúc của mình nhằm đảm bảo an toàn về mặt pháp lý sau này chúng ta có thể tìm tới Thừa phát lại. Họ sẽ tiến hành lập vi bằng và vi bằng chính là một tài liệu bằng văn bản có hình ảnh, video, âm thanh kèm theo (nếu cần thiết). Trong tài liệu đó, Thừa phát lại sẽ mô tả, ghi nhận lại hành vi, sự kiện lập vi bằng mà đích thân Thừa phát lại chứng kiến một cách trung thực, khách quan. Tài liệu này có giá trị chứng cứ trước Tòa án nếu các bên có phát sinh tranh chấp liên quan đến sự kiện, hà
nh vi lập vi bằng. Tầm quan trọng này đã được quy định tại khoản 2 Điều 2 Nghị định số 61/2009/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại thực hiện thí điểm tại thành phố Hồ Chí Minh quy định “Vi bằng là văn bản do Thừa phát lại lập, ghi nhận sự kiện, hành vi được dùng làm chứng cứ trong xét xử và trong các quan hệ pháp lý khác”. Và Điều 7 Thông tư liên tịch số 09/2014/TTLT-BTP-TANDTC- VKSNDTC- BTC ban hành ngày 28/02/2014 quy định: “Vi bằng do Thừa phát lại lập là nguồn chứng cứ để Tòa án xem xét khi giải quyết vụ án và là căn cứ để thực hiện các giao dịch hợp pháp theo quy định của pháp luật”.
Đây sẽ là chứng cứ không thể bác bỏ trong chứng minh việc đã tiến hành lập Vi bằng ghi nhận việc lập di chúc. Minh chứng thông qua, “Giá trị pháp lý của vi bằng do Thừa phát lại lập” được quy định tại Nghị định số 08/2020/NĐ-CP:
“1. Vi bằng có giá trị chứng cứ để Tòa án xem xét khi giải quyết vụ án.
Vi bằng là căn cứ để thực hiện các giao dịch hợp pháp khác theo quy định của pháp luật”.
Như vậy, chúng ta có thể lựa chọn lập vi bằng để đảm bảo an toàn về mặt pháp lý và phòng tránh được tối đa các rủi ro khi có tranh chấp xảy ra. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng, giá trị của vi bằng ghi nhận sự việc lập di chúc không có giá trị thay thế văn bản công chứng, chứng thực mà vi bằng có giá trị chứng cứ trước Tòa và các quan hệ pháp lý khác, dùng để chứng minh sự thể hiện ý chí thông qua việc lập di chúc làm cơ sở để các bên tuân thủ, bảo đảm nguyện vọng của người lập di chúc được thực hiện đúng hoặc là cơ sở để giải quyết khi có tranh chấp xảy ra mà thôi.
Trên đây là các quy định của pháp luật về vi bằng. Nếu quý vị có bất kỳ thắc mắc hay cần Văn phòng tư vấn về vi bằng, hãy liên hệ với chúng tôi.
Văn phòng Thừa Phát Lại Đồng Tháp
Địa chỉ: số 02, Quốc lộ 30, phường Mỹ Phú, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp
Hotline: 0913.882.312.
Xin cảm ơn!

LẬP VI BẰNG GHI NHẬN THỎA THUẬN VỀ LỐI ĐI CHUNG

Khi đi mua nhà, chúng ta phải hết sức chú ý về lối đi chung. Thực tế, bất kì ai cũng có nhu cầu sử dụng lối đi chung để thông thương ra đường công cộng, phục vụ cuộc sống hằng ngày. Vì vậy, thỏa thuận mở lối đi chung khi bị vây bọc hoặc lối đi quá hẹp muốn mở rộng là một nhu cầu thiết thực. Tuy nhiên, khi thỏa thuận nếu không cẩn thận sẽ dẫn đến những hậu quả khó lường.
Ví dụ như trường hợp sau: “Anh A mua một mảnh đất có diện tích 200m2 trong thửa đất có tổng diện tích 500m2 của anh B, một mặt giáp đất nhà anh B, ba mặt còn lại đều có nhà xây sát vách. Khi xem xét thực trạng mảnh đất, anh A thấy không có lối đi từ mảnh đất của mình ra đường công cộng gần nhất. Vì vậy, anh A đã yêu cầu anh B dành cho mình một lối đi trên đất của anh B có diện tích 60m2 từ mảnh đất nhà anh A ra đường công cộng gần nhất với điều kiện sẽ giao cho anh B 100 triệu đồng. Vì tin tưởng nên anh A chỉ giao tiền mà không ký kết bất cứ giấy tờ gì. Một thời gian sau, anh B đào móng để xây nhà trên diện tích của mình và chặn lối đi của anh A. Anh A đã nộp đơn khởi kiện ra Tòa án có thẩm quyền, tuy nhiên lại không có bất cứ chứng cứ nào liên quan đến việc giao tiền và thỏa thuận về lối đi chung”
Để tránh gặp phải tình huống tương tự, hãy yêu cầu Thừa phát lại lập VI BẰNG GHI NHẬN THỎA THUẬN VỀ LỐI ĐI CHUNG để làm bằng chứng, chứng cứ tại Tòa án khi xảy ra tranh chấp, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình. Vi bằng chính là sợi dây ràng buộc giúp hạn chế tối đa việc “lật kèo” trong các thỏa thuận và giao dịch dân sự về lối đi chung.
?Liên hệ Văn phòng Thừa phát lại Đồng Tháp để được hỗ trợ tư vấn và lập vi bằng thu thập chứng cứ.
VĂN PHÒNG THỪA PHÁT LẠI ĐỒNG THÁP
?HOTLINE: 0913882312

VI BẰNG GHI NHẬN LỜI TRÌNH BÀY CỦA NGƯỜI LÀM CHỨNG TRONG VỤ ÁN DÂN SỰ

?? Khi người làm chứng không thể trực tiếp ra đối chất trước Tòa án, khi người làm chứng e ngại việc ra tòa làm chứng sẽ gây bất lợi cho mình,… thì hãy liên hệ ngay với Thừa phát lại để yêu cầu lập “VI BẰNG GHI NHẬN LỜI TRÌNH BÀY CỦA ‘NGƯỜI LÀM CHỨNG’ TRONG VỤ ÁN DÂN SỰ”

– Bộ Luật tố tụng Dân sự 2015 định nghĩa về ‘Người làm chứng’, là ‘Người biết các tình tiết có liên quan đến nội dung vụ việc được đương sự đề nghị, Tòa án triệu tập tham gia tố tụng với tư cách là người làm chứng. Người mất năng lực hành vi dân sự không thể là người làm chứng’ (Điều 77 BLTTDS). Về quyền, nghĩa vụ của ‘người làm chứng’ được quy định tại Điều 78 BLTTDS.
– Lời khai của người làm chứng là một trong những nguồn chứng cứ theo BLTTDS nếu được ghi bằng văn bản, băng ghi âm, đĩa ghi âm, băng ghi hình, đĩa ghi hình, thiết bị khác chứa âm thanh, hình ảnh hoặc khai bằng lời tại phiên tòa.
Cũng theo BLTTDS, đương sự được quyền tự mình xác minh, thu thập chứng cứ (hoặc có thể yêu cầu tòa án) bằng một số biện pháp mà luật cho phép như: Thu thập tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được; thông điệp dữ liệu điện tử; Thu thập vật chứng; Xác định người làm chứng và lấy xác nhận của người làm chứng; … (Điều 97 BLTTDS).
?Việc chủ động yêu cầu Thừa phát lại lập Vi bằng thu thập chứng cứ là lời trình bày của người mà đương sự xác định rằng là ‘Người làm chứng’ trong tố tụng có ý nghĩa hết sức quan trọng, làm sáng tỏ những tình tiết khách quan của vụ án, giúp cho vụ án được giải quyết một cách toàn diện, khách quan hơn.
Vi bằng ghi nhận lời trình bày của người làm chứng sẽ tăng tính xác thực hơn so với ‘văn bản có xác nhận của người làm chứng’ bởi vi bằng không những được thể hiện bằng chữ viết của họ mà còn thể hiện bằng hình ảnh, video và kèm theo các tài liệu mà họ muốn giao nộp cho tòa án cùng với sự ghi nhận và chứng kiến của Thừa phát lại.
——
?Liên hệ Văn phòng Thừa phát lại Đồng Tháp để được hỗ trợ tư vấn và lập vi bằng thu thập chứng cứ.
VĂN PHÒNG THỪA PHÁT LẠI ĐỒNG THÁP
?HOTLINE: 0913882312
Email: [email protected]
Website: thuaphatlaidongthap.com

Thẩm quyền của thừa phát lại

Khi tôi đến tống đạt văn bản cho người dân hay liên hệ với các cơ quan; mọi người vừa nghe đến từ tống đạt hay biên bản tống đạt là liên tưởng đến một điều gì đó to tát

Mỗi khi tôi giới thiệu mình làm ở Văn phòng Thừa phát lại hoặc giới thiệu bạn bè đến trang tuyên truyền Thừa phát lại, hầu như tất cả mọi người đều hỏi tôi Thừa phát lại là gì? Tôi đã từng viết một bài viết liên quan đến vấn đề này nhưng dường như nó hơi ngắn gọn. Thế nên, hôm nay tôi viết bài này nói về chế định Thừa phát lại một cách chi tiết, gần gũi và dễ hiểu cho mọi người. Hy vọng, sau khi đọc bài viết này mọi người sẽ có những ý niệm cơ bản nhất về chế định Thừa phát lại.

 

Thừa phát lại là một chức danh tư pháp và là tên gọi của một nghề luật như nghề Thẩm phán, Kiểm sát viên, Luật sư, Công chứng viên… Thừa phát lại hành nghề nhân danh tổ chức của mình dưới hình thức pháp lý là doanh nghiệp tư nhân hoặc công ty hợp danh. Tuy nhiên, tên gọi của nó luôn luôn là Văn phòng Thừa phát lại + tên đơn vị hành chính cấp huyện nơi văn phòng đặt trụ sở:

Ví dụ, Văn phòng Thừa phát lại Quận Bình Thạnh, Văn phòng Thừa phát lại Quận 10…

Cũng như các nghề luật khác thì nhà nước cũng quy định những công việc cụ thể mà Thừa phát lại được thực hiện. Bốn công việc mà Thừa phát lại được phép thực hiện bao gồm:

– Thi hành án;

– Xác minh điều kiện thi hành án;

– Lập vi bằng

– Tống đạt văn bản, giấy tờ của Tòa án và cơ quan thi hành án.

Chắc hẳn đọc đến đây, mọi người vẫn còn mơ hồ về chế định Thừa phát lại. Tôi sẽ đi sâu giải thích các công việc này ngay sau đây để mọi người hiểu rõ hơn.

1.      Công việc thi hành án và xác minh điều kiện thi hành án:

Công việc Thi hành án và công việc Xác minh điều kiện thi hành án làm cho Thừa phát lại có chức năng như một cơ quan thi hành án dân sự tư nhân tức đối lập với cơ quan thi hành án dân sự công (Cục thi hành án dân sự/Chi cục thi hành án dân sự).

Hình 1. Thừa  phát lại Q.Bình Thạnh đang tổ chức thi hành án

(Ảnh Pháp luật TP)

Khi bạn và một người khác có tranh chấp và đưa ra Tòa án giải quyết. Tòa xử bạn được thắng kiện với số tiền mà bên thua kiện phải trả cho bạn là 100 triệu. Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, lẽ đương nhiên, bạn sẽ được nhận 100 triệu. Tuy nhiên, nếu bên thua kiện không chịu trả cho bạn thì làm sao?

Bạn sẽ phải gửi đơn yêu cầu thi hành án đến cơ quan thi hành án kèm theo đó là thông tin về tài sản hoặc điều kiện thi hành án của người thua kiện. Cơ quan thi hành án đó có thể là cơ quan thi hành án dân sự công (Cục thi hành án dân sự/ Chi cục thi hành án dân sự) hoặc cơ quan thi hành án dân sự tư (Văn phòng Thừa phát lại), sau đây tôi gọi chung là cơ quan thi hành án. Cơ quan thi hành án sẽ ra quyết định về việc thi hành án theo đơn yêu cầu để yêu cầu bên thua kiện (giai đoạn thi hành án gọi là bên phải thi hành án) thực hiện việc thanh toán 100 triệu đồng cho bên thắng kiện là bạn (giai đoạn thi hành án gọi là bên được thi hành án).

Nếu bên phải thi hành án không tự nguyện trả cho bạn 100 triệu sau 15 ngày được thông báo hợp lệ Quyết định thi hành án theo đơn yêu cầu nói trên thì cơ quan thi hành án sẽ làm các thủ tục cưỡng chế, kê biên và bán đấu giá tài sản mà bên phải thi hành án sở hữu để làm đảm bảo trả đủ số tiền 100 triệu cho bạn. Tài sản này đã được xác định trong kết quả xác minh điều kiện thi hành án. Đây là toàn bộ quá trình thi hành một quyết định, bản án dân sự cơ bản. Văn phòng Thừa phát lại khi tổ chức thi hành án theo yêu cầu của bạn cũng tuân theo quy trình trên. Tới đây, chắc bạn cũng đã có những hiểu biết cơ bản về công việc thi hành án của Văn phòng Thừa phát lại.

Tiếp theo, tôi sẽ nói đến công việc xác minh điều kiện thi hành án của Văn phòng Thừa phát lại. Như ở trên đã nói, khi bạn đem bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật đến yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự (cơ quan thi hành án công/ cơ quan thi hành án tư-VP Thừa phát lại) tổ chức thi hành cho bạn thì bạn phải cung cấp thông tin về việc bên thua kiện có đủ điều kiện để thi hành án cho bạn.

Hình 2. Tư vấn xác minh điều kiện thi hành án tại VP Thừa phát lại Q.Bình Thạnh

(Ảnh Pháp luật TP)

Luật quy định bạn có trách nhiệm xác minh thông tin tài sản hoặc điều kiện thi hành án của người thua kiện. Khi bạn đã áp dụng các biện pháp cần thiết mà không thể tự xác minh được điều trên thì có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án xác minh. Quy định như vậy nhằm mục đích để bạn chia sẻ một phần gánh nặng công việc cho cơ quan thi hành án. Tuy nhiên, việc tự mình đi xác minh như trên đối với người dân bình thường nói chung và đối với bạn nói riêng là điều không phải dễ dàng. Nguyên nhân vì sao thì chắc bạn cũng hiểu được một phần. Về phía bạn, việc được giao nhiệm vụ tự mình đi xác minh trong khi không có một nền tảng kiến thức pháp lý là một điều khó khăn. Còn về phía các cơ quan nắm giữ thông tin (văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất, điểm đăng ký xe của phòng cảnh sát giao thông, ngân hàng…), tuy luật quy định họ phải cung cấp thông tin cho bạn khi bạn đến xác minh nhưng luật cũng cho phép họ từ chối cung cấp nhưng phải nêu lý do. Chính vì lẽ đó, việc xác minh của bạn thường không có kết quả hoặc nếu có thì cũng mất nhiều thời gian, tiền bạc và công sức.

Văn phòng Thừa phát lại tập hợp đội ngũ Thừa phát lại có chuyên môn và kinh nghiệm pháp lý, được pháp luật cho phép thực hiện công việc xác minh điều kiện thi hành án. Pháp luật cũng quy định các cơ quan có liên quan trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm hỗ trợ Thừa phát lại Việc xác minh điều kiện thi hành án. Do đó, nếu bạn không có điều kiện để tự mình đi xác minh, bạn có thể đến Văn phòng Thừa phát lại để được hỗ trợ và ký hợp đồng dịch vụ pháp lý yêu cầu Thừa phát lại xác minh điều kiện thi hành án cho bạn.

Kết quả xác minh là một văn bản trả lời của cơ quan quản lý thông tin chủ sở hữu của đối tượng xác minh. Kết quả xác minh đó được cơ quan thi hành án (cơ quan thi hành án công/cơ quan thi hành án tư- VP Thừa phát lại) sử dụng để thi hành án. Dưới đây là ví dụ về một số loại tài sản và cơ quan quản lý thông tin chủ sở hữu thường hay liên quan đến hoạt động xác minh điều kiện thi hành án:

Bạn thấy bên thua kiện đang ở trong một căn nhà, đi lại bằng một chiếc xe ô tô 7 chỗ và thường giao dịch qua ngân hàng Cổ phần  Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank). Bạn đến ký hợp đồng yêu cầu VP Thừa phát lại xác minh thông tin liên quan đến nhà đất, chiếc ô tô và xác minh bên thua kiện có tài khoản dương ở ngân hàng Vietcombank hay không? Các cơ quan mà Thừa phát lại đến để yêu cầu hỗ trợ xác minh lần lượt là: Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thuộc Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện hoặc cơ quan thuế nơi có nhà đất; Phòng cảnh sát giao thông hoặc cơ quan thuế nơi đăng ký xe; Ngân hàng Vietcombank.

Trên đây, tôi đã nói qua cho bạn về công việc thi hành án và công việc xác minh điều kiện thi hành án.

2.      Công việc lập vi bằng:

Vi bằng là một tài liệu bằng văn bản có hình ảnh, video, âm thanh kèm theo (nếu cần thiết). Trong tài liệu đó, Thừa phát lại sẽ mô tả, ghi nhận lại hành vi, sự kiện lập vi bằng  mà đích thân Thừa phát lại chứng kiến một cách trung thực, khách quan. Tài liệu này có giá trị chứng cứ trước Tòa án nếu các bên có phát sinh tranh chấp liên quan đến sự kiện, hành vi lập vi bằng.

Bạn hãy tưởng tượng mình là một người chứng kiến việc một người cầm dao đâm chết người khác. Trong phiên xử hình sự, Tòa án kêu bạn ra làm chứng. Bạn sẽ mô tả lại những việc mà bạn chứng kiến có thể bằng lời nói hoặc bằng văn bản. Tuy nhiên, lời chứng của bạn có là sự thật hay không thì Tòa án, Cơ quan điều tra còn phải xác minh, điều tra lại. Còn Thừa phát lại khi lập vi bằng về hành vi, sự kiện thì có mô tả, quay phim, chụp hình và ghi âm (nếu cần thiết). Vi bằng đó phải được đăng ký tại Sở tư pháp trong vòng 3 ngày kể từ ngày lập. Chính những yếu tố đó là ưu điểm tăng chứng cho vi bằng và luật quy định bản thân vi bằng có giá trị chứng cứ.

Hiện nay, có hai loại vi bằng cơ bản mà các Văn phòng Thừa phát lại lập đó là: Vi bằng ghi nhận sự kiện, hành vi và Vi bằng ghi nhận hiện trạng. Dưới đây là 2 ví dụ về 2 loại vi bằng trên:

Ví dụ về vi bằng ghi nhận sự kiện, hành vi. Hiện nay, pháp luật không quy định giao dịch đặt cọc phải thực hiện thủ tục công chứng. Bạn muốn đặt cọc 100 triệu cho ông A để đảm bảo việc 2 bên giao kết hợp đồng mua bán căn nhà mà ông A đang ở. Bạn sợ với số tiền lớn như vậy mà việc đặt cọc chỉ có 2 bên sẽ có rủi ro pháp lý về sau? Bạn có thể đến VP Thừa phát lại để được tư vấn về việc lập vi bằng liên quan đến hành vi 2 bên ký tên vào hợp đồng đặt cọc và hành vi giao nhận tiền đặt cọc giữa 2 bên. Vi bằng này được đăng ký tại Sở tư pháp trong vòng 3 ngày kể từ ngày lập.

Hình 3. Thừa phát lại Q.Bình Thạnh đang lập vi bằng

(Ảnh Pháp luật TP)

Ví dụ về vi bằng ghi nhận hiện trạng. Bạn có 1 căn nhà nhưng không có nhu cầu ở. Bạn muốn cho công ty A thuê để kinh doanh nhưng bạn và công ty A đều không muốn sau khi chấm dứt hợp đồng, các bên lại có tranh chấp về các vật dụng trong căn nhà trên cũng như hiện trạng căn nhà? Bạn có thể đến Văn phòng Thừa phát lại để được tư vấn về việc lập vi bằng ghi nhận hiện trạng căn nhà trên trước thời điểm công ty A dọn vào làm việc. Vi bằng này được đăng ký tại Sở tư pháp trong vòng 3 ngày kể từ ngày lập. Nếu sau này có phát sinh tranh chấp như tôi nói ở trên, Vi bằng này sẽ được sử dụng làm chứng cứ giải quyết tranh chấp.

3.      Công việc tống đạt:

Thừa phát lại đi tống đạt văn bản của Tòa án và Cơ quan thi hành án dân sự công là thực hiện đúng chủ trương cải cách tư pháp của Quốc hội. Theo đó, các thư ký Tòa án, thư ký Cơ quan thi hành án dân sự công sẽ có nhiều thời gian hơn để tập trung học hỏi cho công việc nghiệp vụ ở cơ quan. Điều này cũng đáp ứng được kỳ vọng của các bên liên quan về công tác tống đạt văn bản như tôi đã nêu ở bài viết trước.

Khi tôi đến tống đạt văn bản cho người dân hay liên hệ với các cơ quan; mọi người vừa nghe đến từ tống đạt hay biên bản tống đạt là liên tưởng đến một điều gì đó to tát. Có người thì có tâm lý e ngại, có người thì không hiểu. Vậy tống đạt là gì?

Tống đạt là việc thông báo, giao nhận các văn bản của Tòa án và Cơ quan thi hành án dân sự do Thừa phát lai thực hiện”- Đây là nguyên văn khoản 3 Điều 2 trích tại Nghị định 61/2009/NĐ-CP về thí điểm chế định Thừa phát lại.

Hình 4. Thư ký nghiệp vụ VP Thừa phát lại Q.Bình Thạnh đang niêm yết văn bản tại UBND

(Ảnh Pháp luật TP)

Hiểu nôm na, công việc tống đạt văn bản của Thừa phát lại là việc nhận văn bản từ Tòa án, Cơ quan thi hành án dân sự để đến giao cho đương sự. Đọc đến đây, có người nghĩ ngay rằng Thừa phát lại đi tống đạt văn bản như một người bưu tá đưa thư cho 2 cơ quan trên !?

Cách hiểu trên liệu có đúng? Câu hỏi đó tôi để cho bạn tự trả lời sau. Tuy nhiên, tôi muốn giải thích rõ hơn cho bạn về công việc tống đạt. Công việc tống đạt của Thừa phát lại được thực hiện theo những trình tự, thủ tục chặt chẽ do pháp luật quy định, cụ thể: Pháp luật tố tụng dân sự, pháp luật tố tụng hình sự, pháp luật tố tụng hành chính; pháp luật thi hành án dân sự… Pháp luật quy định cơ quan công an, ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm hỗ trợ Thừa phát lại trong việc tống đạt văn bản. Ví dụ, cơ quan công an thì hỗ trợ việc xác minh nơi cư trú, nhân thân của đương sự, Ủy ban nhân dân thì hỗ trợ việc niêm yết văn bản, đi theo Thừa phát lại để chứng kiến việc tống đạt. Mỗi hành vi tống đạt, mỗi biên bản tống đạt của Thừa phát lại đều kéo theo những hệ quả pháp lý mà nếu việc tống đạt đó sai thủ tục thì sẽ tạo ra hậu quả pháp lý hết sức nghiêm trọng.

Ví dụ, luật quy định khi đến tống đạt văn bản của Tòa án cho đương sự trong một vụ án dân sự mà đương sự đó vắng mặt thì phải giao văn bản cho những người thân thích, đủ năng lực hành vi dân sự và cùng cư trú tại địa chỉ với người được tống đạt. Tuy nhiên, Thừa phát lại đi tống đạt lại giao văn bản cho người con của đương sự mới 13 tuổi; hoặc giao cho bố của đương sự nhưng người bố cư trú một căn nhà khác, cách xa nhà người con. Cả hai trường hợp nêu trên đều là tống đạt sai thủ tục và bản án, quyết định của Hội đồng xét xử phải bị hủy vì có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.

Lời kết: Thừa phát lại là một nghề luật mới ở Việt Nam và đang ở trong giai đoạn thí điểm. Thế nên, việc nhiều người chưa biết đến hoặc ít được biết đến hoạt động Thừa phát lại là điều dễ hiểu. Tuy nhiên, với những đóng góp ngày càng lớn cho hoạt động tư pháp, trong tương lai, khả năng mô hình Thừa phát lại được nhân rộng và áp dụng chính thức, thống nhất trên cả nước là rất cao. Lúc đó, Thừa phát lại thực sự là người hỗ trợ pháp lý đáng tin cậy cho người dân.

Nguồn bài viết: http://thuaphatlai.mov.mn/bvct/timhieuthuaphatlai/98/bon-loai-viec-cua-thua-phat-lai.html

Thi hành án dân sự sẽ nhanh hơn nhờ Thừa phát lại

Bên lề phiên họp chiều ngày 26/10/2012 kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa XIII, Báo Quân đội nhân dân đã cuộc trao đổi với Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hà Hùng Cường về chế định Thừa phát lại đang được thí điểm tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh xin đăng lại toàn văn cuộc trao đổi nêu trên từ Báo điện tử Quân đội nhân dân:

“QĐND – Lâu nay, thi hành án dân sự luôn là mảng phức tạp và có nhiều vụ việc tồn đọng, khiến không ít người được tòa xử thắng kiện nhưng không thể lấy lại tài sản hoặc quyền lợi của mình. Thừa phát lại là mô hình xã hội hóa một số mảng hoạt động tư pháp đang được thí điểm và sẽ được Quốc hội quyết định “số phận” trong kỳ họp này. Mô hình này được kỳ vọng sẽ mang lại hướng đột phá cho khâu khó, thi hành án dân sự, trong công tác tư pháp lâu nay.

Bên lề buổi họp Quốc hội vừa qua, phóng viên Báo Quân đội nhân dân đã trao đổi với Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hà Hùng Cường về vấn đề này.

Quen với người già, lạ với người trẻ!

PV: Dù đã được thí điểm 2 năm, nhưng khái niệm “thừa phát lại” có vẻ vẫn chưa được nhiều người biết đến, thưa Bộ trưởng?

Bộ trưởng Hà Hùng Cường: Thực ra, thừa phát lại tồn tại trước năm 1950 trên cả nước. Sau đó, ở miền Nam thì còn tồn tại đến tận năm 1975. Cho nên, nó chỉ xa lạ với thế hệ sau thôi. Với những người đã sinh sống qua các thời kỳ đó thì người ta không thấy lạ.

Nôm na, thừa phát lại là người chấp hành các quyết định của tòa án, trong đó có cả lệnh giữ trật tự tại phiên tòa.

 

PV: Tại sao lại gọi là thừa phát lại mà không phải một cái tên thuần Việt hơn?

Bộ trưởng Hà Hùng Cường: Khi xây dựng đề án cũng có nhiều ý kiến tranh luận có thể Việt hóa tên gọi này không. Nhưng cuối cùng thấy khó Việt hóa. Hơn nữa, trong Nghị quyết của Bộ Chính trị năm 2005 cũng đã nhắc đến rồi. Nên cuối cùng vẫn thống nhất để lại tên này, mặc dù đối với thế hệ trẻ nghe cũng hơi lạ.

Tuy nhiên, cũng phải nói thêm rằng, trong việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thì có nhiều khái niệm, thuật ngữ mới. Ví dụ, trước đây, ta thường gọi là xí nghiệp, liên hiệp xí nghiệp, sau, ta đổi thành doanh nghiệp, công ty, rồi thêm cả doanh nhân, ban đầu thì mới, nhưng giờ trở thành phổ thông rồi.

 

Chờ Quốc hội quyết định

 

PV: Sau 2 năm thí điểm, Bộ trưởng đã có thể đánh giá hiệu quả của mô hình thừa phát lại?

Bộ trưởng Hà Hùng Cường: Mặc dù mới thí điểm 2 năm, trong phạm vi vài quận của TP Hồ Chí Minh, nhưng Chính phủ đã tổng kết và khẳng định bước đầu đã thành công, được xã hội đón nhận và đạt được yêu cầu đề ra khi thực hiện chủ trương xã hội hóa này.

 

PV: Thí điểm trên quy mô hẹp, khi nhân rộng liệu có khó khăn không?

Bộ trưởng Hà Hùng Cường: Thực ra không có gì khó khăn, lẽ ra có thể nhân rộng rồi. Thực tế đã có nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đề nghị nhân rộng mô hình tại địa phương họ. Chính thức thì Đà Nẵng, Bình Dương và Đồng Nai đã có đề nghị bằng văn bản và đã có đề án thực hiện. Nhưng cái mắc ở đây là Nghị quyết của Quốc hội cho phép thí điểm đến ngày 1-7-2012 này thôi. Thành ra, Chính phủ chưa giải quyết được những đề nghị đó, chờ lần này Quốc hội quyết định.

 

PV: Vậy, những văn phòng thừa phát lại đang được thí điểm hoạt động như thế nào sau thời điểm 1-7?

Bộ trưởng Hà Hùng Cường: Trong Nghị định của Chính phủ không quy định thời hạn chấm dứt, mà quy định thời hạn tổng kết. Nghị quyết của Quốc hội là chủ trương. Nghị định của Chính phủ – văn bản cao nhất điều chỉnh hoạt động các văn phòng thừa phát lại – không quy định thời hạn chấm dứt. Cho nên các văn phòng thừa phát lại vẫn hoạt động đến ngày hôm nay, trừ khi Quốc hội có quyết định khác.

 

Đã giải quyết 26 vụ việc dân sự

 

PV: Một trong những chức năng của văn phòng thừa phát lại là thực hiện việc thi hành án dân sự. Nhưng cũng có người lo ngại, cơ quan thi hành án dân sự của Nhà nước mà còn khó thi hành án. Văn phòng thừa phát lại là của người ngoài Nhà nước, liệu hoạt động thi hành án dân sự có hiệu quả?

Bộ trưởng Hà Hùng Cường: Thực ra, ở nước ta trước năm 1950 và ở miền Nam trước năm 1975 không có cơ quan thi hành án dân sự của Nhà nước. Tuy vậy, các quyết định của tòa án về phần dân sự trong bản án hình sự cũng như các quyết định, các bản án về lĩnh vực dân sự, hôn nhân gia đình vẫn được thực hiện.

Nghị định của Chính phủ quy định, văn phòng thừa phát lại được quyền xác minh về điều kiện thi hành án để tổ chức thi hành cho đến khi đương sự tự nguyện thi hành. Nếu đương sự không tự nguyện, thừa phát lại có thể lên kế hoạch cưỡng chế. Nhưng họ phải báo cáo Cục trưởng Cục Thi hành án TP Hồ Chí Minh. Sau khi Cục trưởng thẩm định, xem xét và ra quyết định thì mới được cưỡng chế.

 

PV: Cụ thể, trong 2 năm qua, thừa phát lại đã giải quyết bao nhiêu vụ, việc dân sự, bao nhiêu trong số đó phải cưỡng chế?

Bộ trưởng Hà Hùng Cường: Thời gian qua, các văn phòng thừa phát lại đã giải quyết được 26 vụ, việc dân sự. 26 vụ, việc này đã được họ thi hành khá nhanh gọn. Tuyệt đại bộ phận thuyết phục được các đương sự tự nguyện thi hành. Chỉ duy nhất một vụ phải cưỡng chế và họ đã cưỡng chế thành công trên cơ sở quyết định cho phép của Cục trưởng Cục Thi hành án TP Hồ Chí Minh.

 

Không lo thiếu cán bộ

 

PV: Nếu được Quốc hội cho phép nhân rộng thí điểm, hoặc mở rộng đại trà, Bộ Tư pháp có lo mất cán bộ không, khi cán bộ có thể bỏ ra ngoài làm thừa phát lại?

Bộ trưởng Hà Hùng Cường: Không. Nhiều nước, ví dụ ở Đông Âu, đã chuyển đổi sang mô hình thừa phát lại rồi. Phần lớn chấp hành viên của Nhà nước tự nguyện ra ngoài làm thừa phát lại. Như thế, Nhà nước sẽ đỡ gánh nặng về tổ chức bộ máy, biên chế, lề lối…

 

PV: Chức danh thừa phát lại được bổ nhiệm như thế nào?

Bộ trưởng Hà Hùng Cường: Chức danh này do Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm, giống như công chứng viên.

 

PV: Có chức danh, nhưng nội dung thừa phát lại chưa được giảng dạy trong các trường luật?

Bộ trưởng Hà Hùng Cường: Theo tôi được biết thì hiện nay đang thí điểm trên quy mô nhỏ nên chưa đưa vào chương trình giảng dạy. Nếu Quốc hội cho phép thí điểm dài thì sẽ phải thay đổi chương trình.

 

PV: Cụ thể, sẽ dạy nội dung này trong các trường luật hay Trường Đào tạo các chức danh tư pháp?

Bộ trưởng Hà Hùng Cường: Đây là câu hỏi mới, chúng tôi chưa bàn về việc này. Nhưng đã đưa thì trước hết phải đưa vào hệ chính quy các trường luật, kể cả trung cấp và đại học. Riêng trong các trường dạy nghề thì đã có đào tạo về nghiệp vụ thừa phát lại rồi. Nhưng đào tạo cho chức danh thừa phát lại thì chưa.

 

PV: Chính phủ chỉ xin kéo dài thí điểm 3 năm, sau đó có thể sẽ nhân rộng đại trà. Vậy mà giờ chưa tính đến chuyện đào tạo cán bộ thì có muộn quá không, thưa Bộ trưởng?

Bộ trưởng Hà Hùng Cường: Hiện nay thì tương đối sẵn sàng. Có 53 người đã được bổ nhiệm thừa phát lại, nhưng đội ngũ được đào tạo ra thì nhiều hơn. Cũng không loại trừ những người đang là chấp hành viên sẽ đề nghị được bổ nhiệm làm thừa phát lại. Cho nên bây giờ thì không sợ. Thời gian đầu thì lúng túng, nhưng bây giờ thì không còn lúng túng nữa. Nó là sự phân chia lại công việc giữa Nhà nước và xã hội. Phần xã hội chiếm nhiều hơn thì phần Nhà nước sẽ teo lại, vì một bộ phận biên chế của Nhà nước sẽ chuyển sang khu vực xã hội.

PV: Xin cảm ơn Bộ trưởng!

Minh Thắng (thực hiện)”

Xem tin gốc trên Báo điện tử Quân đội nhân dân

(Phòng Bổ trợ tư pháp)
Nguồn: Trang thông tin điện tử Sở Tư pháp TP.HCM

Những trường hợp lập vi bằng của Thừa phát lại

Để đảm bảo việc lập vi bằng được chặt chẽ, phù hợp quy định pháp luật, trong giai đoạn thực hiện thí điểm, Bộ Tư pháp ban hành Công văn số 415/BTP-TCTHA ngày 28/01/2011 hướng dẫn một số nội dung như sau:

1. Về phạm vi lập vi bằng: Thừa phát lại chưa lập vi bằng đối với một số trường hợp sau: Những việc thuộc thẩm quyền công chứng của tổ chức hành nghề công chứng; những việc thuộc thẩm quyền chứng thực của UBND các cấp; Những sự kiện, hành vi thuộc về bí mật đời tư theo quy định tại Điều 38 của Bộ luật dân sự và văn bản liên quan; những sự kiện, hành vi có tính chất nhạy cảm ảnh hưởng đến đời sống xã hội, đến thuần phong, mỹ tục của dân tộc; Nhằm xác nhận, hợp thức hóa các giao dịch trái pháp luật.

2. Theo quy định tại Khoản 2 Điều 26 Nghị định số 61/2009/NĐ-CP thì: “Vi bằng chỉ ghi nhận những sự kiện, hành vi mà Thừa phát lại trực tiếp chứng kiến; việc ghi nhận phải khách quan, trung thực”. Như vậy, Thừa phát lại không được lập vi bằng để ghi nhận những sự kiện, hành vi mà mình không trực tiếp chứng kiến hoặc những sự kiện, hành vi chỉ thông qua lời kể của người khác.

3. Để đảm bảo tính trung thực, khách quan, Thừa phát lại không được tham gia vào sự kiện, hành vi mà mình ghi nhận trong vi bằng.

4. Thừa phát lại không được thay đổi nội dung vi bằng đã được lập, trừ trường hợp phải sửa chữa lỗi kỹ thuật theo quy định tại Điều 5 của Thông tư liên tịch số 13/2010/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC ngày 7/7/2010 của Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Thừa phát lại có thể lập vi bằng để ghi nhận sự kiện mới phát sinh để bổ sung cho vi bằng trước đó.

5. Về nguyên tắc, Thừa phát lại được lập vi bằng đối với những sự kiện hành vi xảy ra trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh theo quy định của Nghị định số 61/2009/NĐ-CP ngày 24/7/2009 của Chính phủ.

Tuy nhiên, để góp phần giúp cho hoạt động Thừa phát lại thực sự có hiệu quả, thực hiện đúng mục đích của việc lập vi bằng là nhằm tạo lập chứng cứ trong quá trình giải quyết của Tòa án cũng như thực hiện các giao dịch hợp pháp khác, đồng thời không làm ảnh hưởng đến các hoạt động của các cơ quan, tổ chức khác, Bộ Tư pháp yêu cầu Thừa phát lại tập trung lập vi bằng đối với các trường hợp sau: Xác nhận tình trạng nhà liền kề trước khi xây dựng công trình; Xác nhận tình trạng nhà trước khi cho thuê nhà; Xác nhận tình trạng nhà khi mua nhà.

Xác nhận tình trạng nhà, đất bị lấn chiếm; Xác nhận việc chiếm giữ nhà, trụ sở, tài sản khác trái pháp luật; Xác nhận tình trạng tài sản trước khi ly hôn, thừa kế; Xác nhận hàng giả bày bán tại cơ sở kinh doanh, thương mại; Xác nhận việc giao hàng kém chất lượng; Xác nhận hành vi cạnh tranh không lành mạnh; Xác nhận việc tổ chức cuộc họp của Đại hội đồng cổ đông; Xác nhận mức độ ô nhiễm; Xác nhận sự chậm trễ trong thi công công trình; Xác nhận tình trạng công trình khi nghiệm thu; Xác nhận các hành vi trái pháp luật trong lĩnh vực tin học, báo chí, phát thanh, truyền hình như: đưa các thông tin không đúng sự thực; đưa thông tin khi chưa được phép người có thẩm quyền; vu khống…

Xác nhận các giao dịch mà theo quy định của pháp luật không thuộc thẩm quyền công chứng của tổ chức hành nghề công chứng; những việc không thuộc thẩm quyền chứng thực của Ủy ban nhân dân các cấp; Xác nhận tình trạng thiệt hại của cá nhân, tổ chức do người khác gây ra; Xác nhận việc từ chối thực hiện công việc của cá nhân, tổ chức mà theo quy định của pháp luật cá nhân, tổ chức đó phải thực hiện; Xác nhận các sự kiện pháp lý khác theo quy định của pháp luật.

Nguồn: Báo PLVN

Tìm hiểu về Vi Bằng

1. Vi bằng là gì ?
Vi bằng là văn bản do Thừa phát lại lập, ghi nhận sự kiện, hành vi được dùng làm chứng cứ trong xét xử và trong các quan hệ pháp lý khá.

2. Giá trị của vi bằng
Vi bằng có giá trị chứng cứ để Tòa án xem xét khi giải quyết vụ án và là căn cứ để thực hiện các giao dịch hợp pháp khác theo quy định của pháp luật.
+   Vi bằng chứng thực sự kiện, hành vi xảy ra theo yêu cầu của tổ chức, cá nhân: sự kiện giao nhận tiền, gửi thông báo đòi nhà, đòi nợ, xác lập hợp đồng, lập di chúc; hành vi vi phạm pháp luật của người khác, hành vi sử dụng nhà thuê không đúng mục đích…
+   Vi bằng ghi nhận hiện trạng các công trình liền kề, lân cận, dùng để lập hồ sơ xây dựng;
+   Vi bằng dùng làm chứng cứ để yêu cầu cơ quan bảo hiểm bồi thường;
+   Vi bằng về các sự kiện, hành vi khác xảy ra trên địa bàn thành phồ Hồ Chí Minh.

3. Thủ tục lập vi bằng:
3.1 Tiếp nhận đơn yêu cầu lập vi bằng: 
–   Khách hàng có nhu cầu lập vi bằng sẽ làm việc với thư ký nghiệp vụ. Thư ký nghiệp vụ tư vấn cho khách hàng về một số quy định pháp luật có liên quan đến vi bằng mà khách hàng muốn lập.
–   Tại đây, khách hàng điền nội dung yêu cầu lập vi bằng vào Phiếu yêu cầu lập vi bằng (theo mẫu). Thư ký nghiệp vụ có trách nhiệm kiểm tra tính hợp pháp của nội dung yêu cầu lập vi bằng và trình Thừa phát lại quyết định.
–   Thư ký nghiệp vụ đề nghị khách hàng điền vào Phiếu cung cấp thông tin (theo mẫu) những thông tin cần thiết liên quan đến việc lập vi bằng.
–   Trường hợp khách hàng yêu cầu lập vi bằng thông qua các phương tiện thông tin khác, Phiếu yêu cầu lập vi bằng, Phiếu cung cấp thông tin sẽ được thực hiện tại nơi khách hàng yêu cầu.

3.2 Thỏa thuận lập vi bằng
–   Khách hàng và Văn phòng Thừa phát lại tiến hành ký vào phiếu thỏa thuận lập vi bằng (theo mẫu), trong đó xác định: nội dung cần lập vi bằng, thời gian, địa điểm lập vi bằng, chi phí lập vi bằng… đồng thời tiến hành tạm ứng chi phí lập vi bằng.
–   Phiếu thỏa thuận lập vi bằng được lập thành 02 bản, mỗi bên giữ 01 bản. Thư ký nghiệp vụ ghi vào sổ theo dõi thỏa thuận lập vi bằng.

3.3 Tiến hành lập vi bằng
–   Vi bằng (theo mẫu) có thể được lập tại Văn phòng Thừa phát lại hoặc tại nơi mà khách hàng yêu cầu.
–   Trong trường hợp cần thiết hoặc theo yêu cầu của khách hàng, Thừa phát lại có quyền mời người làm chứng, chứng kiến việc lập vi bằng hoặc yêu cầu nhà chuyên môn tham gia vào việc lập vi bằng.
–   Thừa phát lại sẽ mô tả cụ thể sự kiện, hành vi cần ghi nhận; tiến hành đo đạc, chụp ảnh, quay phim… trung thực, khách quan trong vi bằng.
–   Trước khi ký vào vi bằng, Thừa phát lại tự mình kiểm tra lại giấy tờ tùy thân của khách hàng, người bị lập vi bằng, người làm chứng… và yêu cầu những người tham gia, chứng kiến, người có hành vi bị lập vi bằng ký tên vào vi bằng.
–   Vi bằng được đóng số theo thứ tự thời gian, ghi vào sổ theo dõi vi bằng và được lập thành 03 bản chính.

3.4 Thanh lý thỏa thuận lập vi bằng
–   Trước khi giao vi bằng, thư ký nghiệp vụ đề nghị khách hàng ký vào sổ bàn giao vi bằng và thanh lý thỏa thuận lập vi bằng.
–   Khách hàng được giao một bản chính của vi bằng.

3.5 Cung cấp bản sao vi bằng
–   Bản sao vi bằng chỉ được cung cấp trong trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu bằng văn bản về việc cung cấp bản sao vi bằng phục vụ cho việc giám sát, kiểm tra, thanh tra, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án liên quan đến việc đã lập vi bằng. Văn bản về việc cung cấp bản sao vi bằng phải được lưu trong hồ sơ vi bằng.
–   Việc cấp bản sao vi bằng do Thừa phát lại đã thực hiện vi bằng quyết định, được thực hiện tại Văn phòng Thừa phát lại sau khi đối chiếu với bản chính và đóng dấu bản sao vi bằng, đồng thời được ghi vào sổ theo dõi vi bằng.

4. Chi phí cho việc lập vi bằng
Chi phí lập vi bằng do khách hàng và văn phòng Thừa phát lại thỏa thuận theo công việc thực hiện hoặc theo giờ làm việc. Văn phòng Thừa phát lại và khách hàng có thể thỏa thuận thêm về các khoản chi phí thực tế phát sinh gồm: chi phí đi lại; phí dịch vụ cho các cơ quan cung cấp thông tin nếu có; tiền bồi dưỡng người làm chứng, người tham gia hoặc chi phí khác nếu có.
Chi phí cho từng loại vụ việc cụ thể được thực hiện theo danh mục biểu phí của Văn phòng.