Thẩm quyền của thừa phát lại

Khi tôi đến tống đạt văn bản cho người dân hay liên hệ với các cơ quan; mọi người vừa nghe đến từ tống đạt hay biên bản tống đạt là liên tưởng đến một điều gì đó to tát

Mỗi khi tôi giới thiệu mình làm ở Văn phòng Thừa phát lại hoặc giới thiệu bạn bè đến trang tuyên truyền Thừa phát lại, hầu như tất cả mọi người đều hỏi tôi Thừa phát lại là gì? Tôi đã từng viết một bài viết liên quan đến vấn đề này nhưng dường như nó hơi ngắn gọn. Thế nên, hôm nay tôi viết bài này nói về chế định Thừa phát lại một cách chi tiết, gần gũi và dễ hiểu cho mọi người. Hy vọng, sau khi đọc bài viết này mọi người sẽ có những ý niệm cơ bản nhất về chế định Thừa phát lại.

 

Thừa phát lại là một chức danh tư pháp và là tên gọi của một nghề luật như nghề Thẩm phán, Kiểm sát viên, Luật sư, Công chứng viên… Thừa phát lại hành nghề nhân danh tổ chức của mình dưới hình thức pháp lý là doanh nghiệp tư nhân hoặc công ty hợp danh. Tuy nhiên, tên gọi của nó luôn luôn là Văn phòng Thừa phát lại + tên đơn vị hành chính cấp huyện nơi văn phòng đặt trụ sở:

Ví dụ, Văn phòng Thừa phát lại Quận Bình Thạnh, Văn phòng Thừa phát lại Quận 10…

Cũng như các nghề luật khác thì nhà nước cũng quy định những công việc cụ thể mà Thừa phát lại được thực hiện. Bốn công việc mà Thừa phát lại được phép thực hiện bao gồm:

– Thi hành án;

– Xác minh điều kiện thi hành án;

– Lập vi bằng

– Tống đạt văn bản, giấy tờ của Tòa án và cơ quan thi hành án.

Chắc hẳn đọc đến đây, mọi người vẫn còn mơ hồ về chế định Thừa phát lại. Tôi sẽ đi sâu giải thích các công việc này ngay sau đây để mọi người hiểu rõ hơn.

1.      Công việc thi hành án và xác minh điều kiện thi hành án:

Công việc Thi hành án và công việc Xác minh điều kiện thi hành án làm cho Thừa phát lại có chức năng như một cơ quan thi hành án dân sự tư nhân tức đối lập với cơ quan thi hành án dân sự công (Cục thi hành án dân sự/Chi cục thi hành án dân sự).

Hình 1. Thừa  phát lại Q.Bình Thạnh đang tổ chức thi hành án

(Ảnh Pháp luật TP)

Khi bạn và một người khác có tranh chấp và đưa ra Tòa án giải quyết. Tòa xử bạn được thắng kiện với số tiền mà bên thua kiện phải trả cho bạn là 100 triệu. Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, lẽ đương nhiên, bạn sẽ được nhận 100 triệu. Tuy nhiên, nếu bên thua kiện không chịu trả cho bạn thì làm sao?

Bạn sẽ phải gửi đơn yêu cầu thi hành án đến cơ quan thi hành án kèm theo đó là thông tin về tài sản hoặc điều kiện thi hành án của người thua kiện. Cơ quan thi hành án đó có thể là cơ quan thi hành án dân sự công (Cục thi hành án dân sự/ Chi cục thi hành án dân sự) hoặc cơ quan thi hành án dân sự tư (Văn phòng Thừa phát lại), sau đây tôi gọi chung là cơ quan thi hành án. Cơ quan thi hành án sẽ ra quyết định về việc thi hành án theo đơn yêu cầu để yêu cầu bên thua kiện (giai đoạn thi hành án gọi là bên phải thi hành án) thực hiện việc thanh toán 100 triệu đồng cho bên thắng kiện là bạn (giai đoạn thi hành án gọi là bên được thi hành án).

Nếu bên phải thi hành án không tự nguyện trả cho bạn 100 triệu sau 15 ngày được thông báo hợp lệ Quyết định thi hành án theo đơn yêu cầu nói trên thì cơ quan thi hành án sẽ làm các thủ tục cưỡng chế, kê biên và bán đấu giá tài sản mà bên phải thi hành án sở hữu để làm đảm bảo trả đủ số tiền 100 triệu cho bạn. Tài sản này đã được xác định trong kết quả xác minh điều kiện thi hành án. Đây là toàn bộ quá trình thi hành một quyết định, bản án dân sự cơ bản. Văn phòng Thừa phát lại khi tổ chức thi hành án theo yêu cầu của bạn cũng tuân theo quy trình trên. Tới đây, chắc bạn cũng đã có những hiểu biết cơ bản về công việc thi hành án của Văn phòng Thừa phát lại.

Tiếp theo, tôi sẽ nói đến công việc xác minh điều kiện thi hành án của Văn phòng Thừa phát lại. Như ở trên đã nói, khi bạn đem bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật đến yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự (cơ quan thi hành án công/ cơ quan thi hành án tư-VP Thừa phát lại) tổ chức thi hành cho bạn thì bạn phải cung cấp thông tin về việc bên thua kiện có đủ điều kiện để thi hành án cho bạn.

Hình 2. Tư vấn xác minh điều kiện thi hành án tại VP Thừa phát lại Q.Bình Thạnh

(Ảnh Pháp luật TP)

Luật quy định bạn có trách nhiệm xác minh thông tin tài sản hoặc điều kiện thi hành án của người thua kiện. Khi bạn đã áp dụng các biện pháp cần thiết mà không thể tự xác minh được điều trên thì có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án xác minh. Quy định như vậy nhằm mục đích để bạn chia sẻ một phần gánh nặng công việc cho cơ quan thi hành án. Tuy nhiên, việc tự mình đi xác minh như trên đối với người dân bình thường nói chung và đối với bạn nói riêng là điều không phải dễ dàng. Nguyên nhân vì sao thì chắc bạn cũng hiểu được một phần. Về phía bạn, việc được giao nhiệm vụ tự mình đi xác minh trong khi không có một nền tảng kiến thức pháp lý là một điều khó khăn. Còn về phía các cơ quan nắm giữ thông tin (văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất, điểm đăng ký xe của phòng cảnh sát giao thông, ngân hàng…), tuy luật quy định họ phải cung cấp thông tin cho bạn khi bạn đến xác minh nhưng luật cũng cho phép họ từ chối cung cấp nhưng phải nêu lý do. Chính vì lẽ đó, việc xác minh của bạn thường không có kết quả hoặc nếu có thì cũng mất nhiều thời gian, tiền bạc và công sức.

Văn phòng Thừa phát lại tập hợp đội ngũ Thừa phát lại có chuyên môn và kinh nghiệm pháp lý, được pháp luật cho phép thực hiện công việc xác minh điều kiện thi hành án. Pháp luật cũng quy định các cơ quan có liên quan trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm hỗ trợ Thừa phát lại Việc xác minh điều kiện thi hành án. Do đó, nếu bạn không có điều kiện để tự mình đi xác minh, bạn có thể đến Văn phòng Thừa phát lại để được hỗ trợ và ký hợp đồng dịch vụ pháp lý yêu cầu Thừa phát lại xác minh điều kiện thi hành án cho bạn.

Kết quả xác minh là một văn bản trả lời của cơ quan quản lý thông tin chủ sở hữu của đối tượng xác minh. Kết quả xác minh đó được cơ quan thi hành án (cơ quan thi hành án công/cơ quan thi hành án tư- VP Thừa phát lại) sử dụng để thi hành án. Dưới đây là ví dụ về một số loại tài sản và cơ quan quản lý thông tin chủ sở hữu thường hay liên quan đến hoạt động xác minh điều kiện thi hành án:

Bạn thấy bên thua kiện đang ở trong một căn nhà, đi lại bằng một chiếc xe ô tô 7 chỗ và thường giao dịch qua ngân hàng Cổ phần  Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank). Bạn đến ký hợp đồng yêu cầu VP Thừa phát lại xác minh thông tin liên quan đến nhà đất, chiếc ô tô và xác minh bên thua kiện có tài khoản dương ở ngân hàng Vietcombank hay không? Các cơ quan mà Thừa phát lại đến để yêu cầu hỗ trợ xác minh lần lượt là: Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thuộc Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện hoặc cơ quan thuế nơi có nhà đất; Phòng cảnh sát giao thông hoặc cơ quan thuế nơi đăng ký xe; Ngân hàng Vietcombank.

Trên đây, tôi đã nói qua cho bạn về công việc thi hành án và công việc xác minh điều kiện thi hành án.

2.      Công việc lập vi bằng:

Vi bằng là một tài liệu bằng văn bản có hình ảnh, video, âm thanh kèm theo (nếu cần thiết). Trong tài liệu đó, Thừa phát lại sẽ mô tả, ghi nhận lại hành vi, sự kiện lập vi bằng  mà đích thân Thừa phát lại chứng kiến một cách trung thực, khách quan. Tài liệu này có giá trị chứng cứ trước Tòa án nếu các bên có phát sinh tranh chấp liên quan đến sự kiện, hành vi lập vi bằng.

Bạn hãy tưởng tượng mình là một người chứng kiến việc một người cầm dao đâm chết người khác. Trong phiên xử hình sự, Tòa án kêu bạn ra làm chứng. Bạn sẽ mô tả lại những việc mà bạn chứng kiến có thể bằng lời nói hoặc bằng văn bản. Tuy nhiên, lời chứng của bạn có là sự thật hay không thì Tòa án, Cơ quan điều tra còn phải xác minh, điều tra lại. Còn Thừa phát lại khi lập vi bằng về hành vi, sự kiện thì có mô tả, quay phim, chụp hình và ghi âm (nếu cần thiết). Vi bằng đó phải được đăng ký tại Sở tư pháp trong vòng 3 ngày kể từ ngày lập. Chính những yếu tố đó là ưu điểm tăng chứng cho vi bằng và luật quy định bản thân vi bằng có giá trị chứng cứ.

Hiện nay, có hai loại vi bằng cơ bản mà các Văn phòng Thừa phát lại lập đó là: Vi bằng ghi nhận sự kiện, hành vi và Vi bằng ghi nhận hiện trạng. Dưới đây là 2 ví dụ về 2 loại vi bằng trên:

Ví dụ về vi bằng ghi nhận sự kiện, hành vi. Hiện nay, pháp luật không quy định giao dịch đặt cọc phải thực hiện thủ tục công chứng. Bạn muốn đặt cọc 100 triệu cho ông A để đảm bảo việc 2 bên giao kết hợp đồng mua bán căn nhà mà ông A đang ở. Bạn sợ với số tiền lớn như vậy mà việc đặt cọc chỉ có 2 bên sẽ có rủi ro pháp lý về sau? Bạn có thể đến VP Thừa phát lại để được tư vấn về việc lập vi bằng liên quan đến hành vi 2 bên ký tên vào hợp đồng đặt cọc và hành vi giao nhận tiền đặt cọc giữa 2 bên. Vi bằng này được đăng ký tại Sở tư pháp trong vòng 3 ngày kể từ ngày lập.

Hình 3. Thừa phát lại Q.Bình Thạnh đang lập vi bằng

(Ảnh Pháp luật TP)

Ví dụ về vi bằng ghi nhận hiện trạng. Bạn có 1 căn nhà nhưng không có nhu cầu ở. Bạn muốn cho công ty A thuê để kinh doanh nhưng bạn và công ty A đều không muốn sau khi chấm dứt hợp đồng, các bên lại có tranh chấp về các vật dụng trong căn nhà trên cũng như hiện trạng căn nhà? Bạn có thể đến Văn phòng Thừa phát lại để được tư vấn về việc lập vi bằng ghi nhận hiện trạng căn nhà trên trước thời điểm công ty A dọn vào làm việc. Vi bằng này được đăng ký tại Sở tư pháp trong vòng 3 ngày kể từ ngày lập. Nếu sau này có phát sinh tranh chấp như tôi nói ở trên, Vi bằng này sẽ được sử dụng làm chứng cứ giải quyết tranh chấp.

3.      Công việc tống đạt:

Thừa phát lại đi tống đạt văn bản của Tòa án và Cơ quan thi hành án dân sự công là thực hiện đúng chủ trương cải cách tư pháp của Quốc hội. Theo đó, các thư ký Tòa án, thư ký Cơ quan thi hành án dân sự công sẽ có nhiều thời gian hơn để tập trung học hỏi cho công việc nghiệp vụ ở cơ quan. Điều này cũng đáp ứng được kỳ vọng của các bên liên quan về công tác tống đạt văn bản như tôi đã nêu ở bài viết trước.

Khi tôi đến tống đạt văn bản cho người dân hay liên hệ với các cơ quan; mọi người vừa nghe đến từ tống đạt hay biên bản tống đạt là liên tưởng đến một điều gì đó to tát. Có người thì có tâm lý e ngại, có người thì không hiểu. Vậy tống đạt là gì?

Tống đạt là việc thông báo, giao nhận các văn bản của Tòa án và Cơ quan thi hành án dân sự do Thừa phát lai thực hiện”- Đây là nguyên văn khoản 3 Điều 2 trích tại Nghị định 61/2009/NĐ-CP về thí điểm chế định Thừa phát lại.

Hình 4. Thư ký nghiệp vụ VP Thừa phát lại Q.Bình Thạnh đang niêm yết văn bản tại UBND

(Ảnh Pháp luật TP)

Hiểu nôm na, công việc tống đạt văn bản của Thừa phát lại là việc nhận văn bản từ Tòa án, Cơ quan thi hành án dân sự để đến giao cho đương sự. Đọc đến đây, có người nghĩ ngay rằng Thừa phát lại đi tống đạt văn bản như một người bưu tá đưa thư cho 2 cơ quan trên !?

Cách hiểu trên liệu có đúng? Câu hỏi đó tôi để cho bạn tự trả lời sau. Tuy nhiên, tôi muốn giải thích rõ hơn cho bạn về công việc tống đạt. Công việc tống đạt của Thừa phát lại được thực hiện theo những trình tự, thủ tục chặt chẽ do pháp luật quy định, cụ thể: Pháp luật tố tụng dân sự, pháp luật tố tụng hình sự, pháp luật tố tụng hành chính; pháp luật thi hành án dân sự… Pháp luật quy định cơ quan công an, ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm hỗ trợ Thừa phát lại trong việc tống đạt văn bản. Ví dụ, cơ quan công an thì hỗ trợ việc xác minh nơi cư trú, nhân thân của đương sự, Ủy ban nhân dân thì hỗ trợ việc niêm yết văn bản, đi theo Thừa phát lại để chứng kiến việc tống đạt. Mỗi hành vi tống đạt, mỗi biên bản tống đạt của Thừa phát lại đều kéo theo những hệ quả pháp lý mà nếu việc tống đạt đó sai thủ tục thì sẽ tạo ra hậu quả pháp lý hết sức nghiêm trọng.

Ví dụ, luật quy định khi đến tống đạt văn bản của Tòa án cho đương sự trong một vụ án dân sự mà đương sự đó vắng mặt thì phải giao văn bản cho những người thân thích, đủ năng lực hành vi dân sự và cùng cư trú tại địa chỉ với người được tống đạt. Tuy nhiên, Thừa phát lại đi tống đạt lại giao văn bản cho người con của đương sự mới 13 tuổi; hoặc giao cho bố của đương sự nhưng người bố cư trú một căn nhà khác, cách xa nhà người con. Cả hai trường hợp nêu trên đều là tống đạt sai thủ tục và bản án, quyết định của Hội đồng xét xử phải bị hủy vì có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.

Lời kết: Thừa phát lại là một nghề luật mới ở Việt Nam và đang ở trong giai đoạn thí điểm. Thế nên, việc nhiều người chưa biết đến hoặc ít được biết đến hoạt động Thừa phát lại là điều dễ hiểu. Tuy nhiên, với những đóng góp ngày càng lớn cho hoạt động tư pháp, trong tương lai, khả năng mô hình Thừa phát lại được nhân rộng và áp dụng chính thức, thống nhất trên cả nước là rất cao. Lúc đó, Thừa phát lại thực sự là người hỗ trợ pháp lý đáng tin cậy cho người dân.

Nguồn bài viết: http://thuaphatlai.mov.mn/bvct/timhieuthuaphatlai/98/bon-loai-viec-cua-thua-phat-lai.html

Thông tư 05/2020/TT-BTP

Số ký hiệu 05/2020/TT-BTP Ngày ban hành 28/08/2020
Loại văn bản Thông tư Ngày có hiệu lực 12/10/2020
Nguồn thu thập Ngày đăng công báo
Ngành
  • Tư pháp
Lĩnh vực
  • Bổ trợ tư pháp
Cơ quan ban hành/ Chức danh / Người ký Bộ Tư pháp Bộ trưởng Lê Thành Long
Phạm vi
  • Toàn quốc

Xem chi tiết thông tư 05/2020 tại đây: thong-tu-052020-thua-phat-lai-dong-thap

Tống đạt văn bản

Căn cứ Điều 32 Nghị định 08/2020/NĐ-CP (Có hiệu lực ngày 24/02/2020) quy định thẩm quyền, phạm vi tống đạt của Thừa phát lại như sau:

– Thừa phát lại thực hiện tống đạt các giấy tờ, hồ sơ, tài liệu sau đây:

+ Giấy tờ, hồ sơ, tài liệu của Tòa án, Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan thi hành án dân sự;

+ Giấy tờ, hồ sơ, tài liệu có liên quan đến tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự của cơ quan có thẩm quyền nước ngoài.

– Trưởng Văn phòng Thừa phát lại có thể giao thư ký nghiệp vụ thực hiện việc tống đạt, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận việc tống đạt phải do Thừa phát lại thực hiện.

– Văn phòng Thừa phát lại phải chịu trách nhiệm trước cơ quan, tổ chức yêu cầu về việc tống đạt thiếu chính xác, không đúng thủ tục, không đúng thời hạn của mình; bồi thường thiệt hại (nếu có) theo quy định của pháp luật.

Văn phòng Thừa phát lại được hình thành bởi một đội ngũ Thừa phát lại có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao, đặc biệt am hiểu các trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật do đã có kinh nghiệm nhiều năm hoạt động trong lĩnh vực pháp lý. Các Thừa phát lại dùng kiến thức và kinh nghiệm của mình để san sẻ tình trạng quá tải trong công việc của các cơ quan Tòa án, Thi hành án dân sự và Viện kiểm sát.

Thư ký nghiệp vụ Văn phòng Thừa phát lại Quận 10 (TP.HCM) đi tống đạt văn bản trong một phóng sự của đài truyền hình thành phố.

Thư ký nghiệp vụ Văn phòng Thừa phát lại đi tống đạt văn bản trong một phóng sự của đài truyền hình thành phố.

Bằng việc thực hiện tống đạt các văn bản của Tòa án và Cơ quan thi hành án dân sự, thậm chí của chính đương sự, dựa trên sự thỏa thuận đối với một số văn bản của Tòa án được thực hiện theo yêu cầu của đương sự, như các quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời mà Tòa án ban hành theo yêu cầu của đương sự trong các vụ án dân sự, thương mại, Thừa phát lại có thể tống đạt văn bản của tất cả các vụ án, kể cả vụ án hình sự trên nhiều địa bàn trong Tỉnh Đồng Tháp. Với đội ngũ chuyên nghiệp, các Thừa phát lại tự tin khẳng định việc tống đạt văn bản của các cơ quan Tòa án, Thi hành án dân sự và Viện kiểm sát sẽ được thực hiện một cách chính xác, nhanh chóng và hiệu quả.

Ngoài ra, các Thừa phát lại luôn nỗ lực cao, có thể thực hiện nhiệm vụ tống đạt cả ngày nghỉ hoặc ngoài giờ hành chính để đảm bảo việc tống đạt sẽ được thực hiện đúng theo thời hạn đã cam kết. Văn phòng Thừa phát lại sẽ là một nhân tố trợ giúp đắc lực cho cơ quan Tòa án, Thi hành án dân sự và Viện kiểm sát, đồng thời góp phần tăng cường tính chủ động của các đương sự trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Xác minh tài sản

Với quy định của luật thi hành án hiện hành, bạn là người được thi hành án thì bạn có trách nhiệm cung cấp thông tin về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án vì người đó phải có tài sản, có thu nhập để thi hành nghĩa vụ về tài sản của mình đối với bạn. Điều đó có nghĩa là bạn phải nắm bắt được các thông tin liên quan đến điều kiện về tài sản, hoàn cảnh, nhân thân của người đã và đang xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Tuy nhiên, bạn không nhận được sự hợp tác từ phía người phải thi hành án thậm chí của các cơ quan có thẩm quyền khi bạn yêu cầu cung cấp thông tin về điều kiện thi hành án của đối phương. Quan trọng hơn, bạn không thể có kỹ năng thu thập các thông tin về điều kiện thi hành án dẫn tới những thông tin mà bạn rất khó khăn mới thu thập được chỉ mang tính chất tham khảo đối với cơ quan thi hành án. Kết quả việc thu thập của bạn không hiệu quả lại có thể làm kéo dài thêm quá trình thi hành án hoặc bị trả lại đơn yêu cầu thi hành án, tạo điều kiện cho người phải thi hành án tẩu tán tài sản.

Khách hàng đang nhờ Văn phòng Thừa phát lại Bình Thạnh (TP.HCM) xác minh điều kiện thi hành án.

Khách hàng đang nhờ Văn phòng Thừa phát lại xác minh điều kiện thi hành án.

Văn phòng Thừa phát lại là một tổ chức được Nhà nước trao một phần quyền lực nên có chức năng xác minh điều kiện thi hành án dân sự. Thừa phát lại là một tổ chức xác minh điều kiện thi hành án chuyên nghiệp, có chuyên môn và kỹ năng xác minh điều kiện thi hành án. Trên cơ sở yêu cầu của bạn là ngưởi được thi hành án, Thừa phát lại sẽ lập kế hoạch xác minh, tiến hành xác minh sau đó lập biên bản xác minh điều kiện thi hành án. Kết quả xác minh điều kiện thi hành án của Thừa phát lại là căn cứ để bạn nộp đơn yêu cầu thi hành án hoặc cung cấp cho cơ quan thi hành án.

Các Thừa phát lại sẽ vì bạn luôn cố gắng hết mình đảm bảo việc xác minh điều kiện thi hành án của người phải thi hành án được hoàn thành trong thời gian sớm nhất. Các Thừa phát lại còn sẵn sàng thực hiện việc xác minh ngoài địa bàn Tỉnh Bình Định trong trường hợp người phải thi hánh án cư trú, có tài sản hay có điều kiện thi hành án trên phạm vi toàn quốc.

Văn phòng Thừa phát lại hình thành là giúp cho người được thi hành án có sự lựa chọn dịch vụ pháp lý tốt và hiệu quả nhất trong việc thi hành án dân sự. Văn phòng Thừa phát lại với phương châm nhanh chóng – hiệu quả – nghiêm minh, chính là chiếc cầu nối của bạn đến với việc được thi hành án, khôi phục lại các quyền và lợi ích hợp pháp của chính bản thân mình.

Lập vi bằng

Vi bằng là văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi có thật do Thừa phát lại trực tiếp chứng kiến, lập theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức. Vi bằng là nguồn chứng cứ để Tòa án xem xét khi giải quyết vụ việc dân sự và hành chính theo quy định của pháp luật; là căn cứ để thực hiện giao dịch giữa các cơ quan, tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật.

MỘT SỐ TRƯỜNG HỢP BẠN NÊN YÊU CẦU THỪA PHÁT LẠI LẬP VI BẰNG NHƯ:

– Xác nhận tình trạng nhà liền kề trước khi xây dựng công trình

– Xác nhận tình trạng nhà trước khi cho thuê nhà; Xác nhận tình trạng nhà khi mua nhà

– Xác nhận tình trạng nhà, đất bị lấn chiếm

– Xác nhận việc chiếm giữ nhà, trụ sở, tài sản khác trái pháp luật

– Xác nhận tình trạng tài sản trước khi ly hôn, thừa kế

– Xác nhận mức độ ô nhiễm

– Xác nhận hàng giả bày bán tại cơ sở kinh doanh, thương mại

– Xác nhận việc giao hàng kém chất lượng

– Xác nhận hành vi cạnh tranh không lành mạnh

– Xác nhận việc tổ chức cuộc họp của Đại hội đồng cổ đông

– Xác nhận sự chậm trễ trong thi công công trình

– Xác nhận tình trạng công trình khi nghiệm thu

– Xác nhận các hành vi trái pháp luật trong lĩnh vực tin học, báo chí, phát thanh, truyền hình như: đưa các thông tin không đúng sự thật; đưa thông tin khi chưa được phép người có thẩm quyền; vu khống…

– Xác nhận tình trạng thiệt hại của cá nhân, tổ chức do người khác gây ra

– Xác nhận các giao dịch mà theo quy định của pháp luật không thuộc thẩm quyền công chứng của tổ chức hành nghề công chứng; những việc không thuộc thẩm quyền chứng thực của Ủy ban nhân dân các cấp

– Xác nhận việc từ chối thực hiện công việc của cá nhân, tổ chức mà theo quy định của pháp luật cá nhân, tổ chức đó phải thực hiện

– Vi bằng ghi nhận buổi họp mặt gia đình, buổi họp mặt trực tuyến trên internet

– Vi bằng về Hợp đồng đặt cọc cho việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất

– Vi bằng về Hợp đồng đặt cọc cho việc mua bán căn hộ chung cư

– Vi bằng về Hợp đồng đặt cọc cho việc thoả thuận mua bán xe ô tô

– Vi bằng về Hợp đồng vay mượn tiền

– Vi bằng thoả thuận phân chia tài sản

– Vi bằng về việc đứng tên dùm tài sản cho công ty

– Vi bằng về việc giao tiền cho người khác mua dùm nhà, đất

– Vi bằng xác nhận tài sản riêng của vợ/chồng trong thời kỳ hôn nhân

– Vi bằng về việc đứng tên dùm trên Giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất

– Vi bằng về việc phân chia tài sản sau ly hôn

– Vi bằng ghi nhận thoả thuận nuôi con

– Vi bằng ghi nhận hiện trạng tường giáp ranh giữa hai nhà đang tranh chấp

– Vi bằng về việc giao nhận tài sản bảo đảm để thay thế nghĩa vụ trả nợ

– Vi bằng hiện trạng căn nhà, tài sản hiện có trong nhà

– Vi bằng ghi nhận việc tiến hành kiểm tra, đo lấy mẫu âm thanh

– Vi bằng về việc giao thông báo triệu tập cuộc họp

– Vi bằng việc giao thông báo đòi nợ

– Vi bằng việc giao thông báo yêu cầu thanh toán tiền thuê nhà và thanh lý Hợp đồng thuê nhà trước thời hạn

– Vi bằng ghi nhận việc gửi thông báo lấy lại nhà

– Vi bằng gửi thông báo đơn phương chấm dứt hợp đồng thuê nhà

– Vi bằng trích xuất nội dung đoạn ghi âm thành văn bản

– Vi bằng ghi nhận sự việc nói xấu trên mạng facebook, zalo,……

VĂN PHÒNG THỪA PHÁT LẠI ĐỒNG THÁP HÂN HẠNH PHỤC VỤ QUÝ KHÁCH MỌI LÚC, MỌI NƠI:

Ø Tư vấn pháp luật miễn phí.

Ø Dịch vụ chất lượng, chuyên nghiệp, an toàn, nhanh chóng, hiệu quả.

Ø Hoạt động lập Vi bằng 24/24h.

Nghị định 08/2020/NĐ-CP về Tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại

Về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại
Số ký hiệu 08/2020/NĐ-CP Ngày ban hành 08/01/2020
Loại văn bản Nghị định Ngày có hiệu lực 24/02/2020
Nguồn thu thập Ngày đăng công báo
Cơ quan ban hành/ Chức danh / Người ký Chính phủ Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc
Phạm vi
Thông tin áp dụng
Tình trạng hiệu lực: Còn hiệu lực

Tải về: VanBanGoc_ND08_2020ND-CP-thuaphatlaidongthap

Thi hành án dân sự sẽ nhanh hơn nhờ Thừa phát lại

Bên lề phiên họp chiều ngày 26/10/2012 kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa XIII, Báo Quân đội nhân dân đã cuộc trao đổi với Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hà Hùng Cường về chế định Thừa phát lại đang được thí điểm tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh xin đăng lại toàn văn cuộc trao đổi nêu trên từ Báo điện tử Quân đội nhân dân:

“QĐND – Lâu nay, thi hành án dân sự luôn là mảng phức tạp và có nhiều vụ việc tồn đọng, khiến không ít người được tòa xử thắng kiện nhưng không thể lấy lại tài sản hoặc quyền lợi của mình. Thừa phát lại là mô hình xã hội hóa một số mảng hoạt động tư pháp đang được thí điểm và sẽ được Quốc hội quyết định “số phận” trong kỳ họp này. Mô hình này được kỳ vọng sẽ mang lại hướng đột phá cho khâu khó, thi hành án dân sự, trong công tác tư pháp lâu nay.

Bên lề buổi họp Quốc hội vừa qua, phóng viên Báo Quân đội nhân dân đã trao đổi với Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hà Hùng Cường về vấn đề này.

Quen với người già, lạ với người trẻ!

PV: Dù đã được thí điểm 2 năm, nhưng khái niệm “thừa phát lại” có vẻ vẫn chưa được nhiều người biết đến, thưa Bộ trưởng?

Bộ trưởng Hà Hùng Cường: Thực ra, thừa phát lại tồn tại trước năm 1950 trên cả nước. Sau đó, ở miền Nam thì còn tồn tại đến tận năm 1975. Cho nên, nó chỉ xa lạ với thế hệ sau thôi. Với những người đã sinh sống qua các thời kỳ đó thì người ta không thấy lạ.

Nôm na, thừa phát lại là người chấp hành các quyết định của tòa án, trong đó có cả lệnh giữ trật tự tại phiên tòa.

 

PV: Tại sao lại gọi là thừa phát lại mà không phải một cái tên thuần Việt hơn?

Bộ trưởng Hà Hùng Cường: Khi xây dựng đề án cũng có nhiều ý kiến tranh luận có thể Việt hóa tên gọi này không. Nhưng cuối cùng thấy khó Việt hóa. Hơn nữa, trong Nghị quyết của Bộ Chính trị năm 2005 cũng đã nhắc đến rồi. Nên cuối cùng vẫn thống nhất để lại tên này, mặc dù đối với thế hệ trẻ nghe cũng hơi lạ.

Tuy nhiên, cũng phải nói thêm rằng, trong việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thì có nhiều khái niệm, thuật ngữ mới. Ví dụ, trước đây, ta thường gọi là xí nghiệp, liên hiệp xí nghiệp, sau, ta đổi thành doanh nghiệp, công ty, rồi thêm cả doanh nhân, ban đầu thì mới, nhưng giờ trở thành phổ thông rồi.

 

Chờ Quốc hội quyết định

 

PV: Sau 2 năm thí điểm, Bộ trưởng đã có thể đánh giá hiệu quả của mô hình thừa phát lại?

Bộ trưởng Hà Hùng Cường: Mặc dù mới thí điểm 2 năm, trong phạm vi vài quận của TP Hồ Chí Minh, nhưng Chính phủ đã tổng kết và khẳng định bước đầu đã thành công, được xã hội đón nhận và đạt được yêu cầu đề ra khi thực hiện chủ trương xã hội hóa này.

 

PV: Thí điểm trên quy mô hẹp, khi nhân rộng liệu có khó khăn không?

Bộ trưởng Hà Hùng Cường: Thực ra không có gì khó khăn, lẽ ra có thể nhân rộng rồi. Thực tế đã có nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đề nghị nhân rộng mô hình tại địa phương họ. Chính thức thì Đà Nẵng, Bình Dương và Đồng Nai đã có đề nghị bằng văn bản và đã có đề án thực hiện. Nhưng cái mắc ở đây là Nghị quyết của Quốc hội cho phép thí điểm đến ngày 1-7-2012 này thôi. Thành ra, Chính phủ chưa giải quyết được những đề nghị đó, chờ lần này Quốc hội quyết định.

 

PV: Vậy, những văn phòng thừa phát lại đang được thí điểm hoạt động như thế nào sau thời điểm 1-7?

Bộ trưởng Hà Hùng Cường: Trong Nghị định của Chính phủ không quy định thời hạn chấm dứt, mà quy định thời hạn tổng kết. Nghị quyết của Quốc hội là chủ trương. Nghị định của Chính phủ – văn bản cao nhất điều chỉnh hoạt động các văn phòng thừa phát lại – không quy định thời hạn chấm dứt. Cho nên các văn phòng thừa phát lại vẫn hoạt động đến ngày hôm nay, trừ khi Quốc hội có quyết định khác.

 

Đã giải quyết 26 vụ việc dân sự

 

PV: Một trong những chức năng của văn phòng thừa phát lại là thực hiện việc thi hành án dân sự. Nhưng cũng có người lo ngại, cơ quan thi hành án dân sự của Nhà nước mà còn khó thi hành án. Văn phòng thừa phát lại là của người ngoài Nhà nước, liệu hoạt động thi hành án dân sự có hiệu quả?

Bộ trưởng Hà Hùng Cường: Thực ra, ở nước ta trước năm 1950 và ở miền Nam trước năm 1975 không có cơ quan thi hành án dân sự của Nhà nước. Tuy vậy, các quyết định của tòa án về phần dân sự trong bản án hình sự cũng như các quyết định, các bản án về lĩnh vực dân sự, hôn nhân gia đình vẫn được thực hiện.

Nghị định của Chính phủ quy định, văn phòng thừa phát lại được quyền xác minh về điều kiện thi hành án để tổ chức thi hành cho đến khi đương sự tự nguyện thi hành. Nếu đương sự không tự nguyện, thừa phát lại có thể lên kế hoạch cưỡng chế. Nhưng họ phải báo cáo Cục trưởng Cục Thi hành án TP Hồ Chí Minh. Sau khi Cục trưởng thẩm định, xem xét và ra quyết định thì mới được cưỡng chế.

 

PV: Cụ thể, trong 2 năm qua, thừa phát lại đã giải quyết bao nhiêu vụ, việc dân sự, bao nhiêu trong số đó phải cưỡng chế?

Bộ trưởng Hà Hùng Cường: Thời gian qua, các văn phòng thừa phát lại đã giải quyết được 26 vụ, việc dân sự. 26 vụ, việc này đã được họ thi hành khá nhanh gọn. Tuyệt đại bộ phận thuyết phục được các đương sự tự nguyện thi hành. Chỉ duy nhất một vụ phải cưỡng chế và họ đã cưỡng chế thành công trên cơ sở quyết định cho phép của Cục trưởng Cục Thi hành án TP Hồ Chí Minh.

 

Không lo thiếu cán bộ

 

PV: Nếu được Quốc hội cho phép nhân rộng thí điểm, hoặc mở rộng đại trà, Bộ Tư pháp có lo mất cán bộ không, khi cán bộ có thể bỏ ra ngoài làm thừa phát lại?

Bộ trưởng Hà Hùng Cường: Không. Nhiều nước, ví dụ ở Đông Âu, đã chuyển đổi sang mô hình thừa phát lại rồi. Phần lớn chấp hành viên của Nhà nước tự nguyện ra ngoài làm thừa phát lại. Như thế, Nhà nước sẽ đỡ gánh nặng về tổ chức bộ máy, biên chế, lề lối…

 

PV: Chức danh thừa phát lại được bổ nhiệm như thế nào?

Bộ trưởng Hà Hùng Cường: Chức danh này do Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm, giống như công chứng viên.

 

PV: Có chức danh, nhưng nội dung thừa phát lại chưa được giảng dạy trong các trường luật?

Bộ trưởng Hà Hùng Cường: Theo tôi được biết thì hiện nay đang thí điểm trên quy mô nhỏ nên chưa đưa vào chương trình giảng dạy. Nếu Quốc hội cho phép thí điểm dài thì sẽ phải thay đổi chương trình.

 

PV: Cụ thể, sẽ dạy nội dung này trong các trường luật hay Trường Đào tạo các chức danh tư pháp?

Bộ trưởng Hà Hùng Cường: Đây là câu hỏi mới, chúng tôi chưa bàn về việc này. Nhưng đã đưa thì trước hết phải đưa vào hệ chính quy các trường luật, kể cả trung cấp và đại học. Riêng trong các trường dạy nghề thì đã có đào tạo về nghiệp vụ thừa phát lại rồi. Nhưng đào tạo cho chức danh thừa phát lại thì chưa.

 

PV: Chính phủ chỉ xin kéo dài thí điểm 3 năm, sau đó có thể sẽ nhân rộng đại trà. Vậy mà giờ chưa tính đến chuyện đào tạo cán bộ thì có muộn quá không, thưa Bộ trưởng?

Bộ trưởng Hà Hùng Cường: Hiện nay thì tương đối sẵn sàng. Có 53 người đã được bổ nhiệm thừa phát lại, nhưng đội ngũ được đào tạo ra thì nhiều hơn. Cũng không loại trừ những người đang là chấp hành viên sẽ đề nghị được bổ nhiệm làm thừa phát lại. Cho nên bây giờ thì không sợ. Thời gian đầu thì lúng túng, nhưng bây giờ thì không còn lúng túng nữa. Nó là sự phân chia lại công việc giữa Nhà nước và xã hội. Phần xã hội chiếm nhiều hơn thì phần Nhà nước sẽ teo lại, vì một bộ phận biên chế của Nhà nước sẽ chuyển sang khu vực xã hội.

PV: Xin cảm ơn Bộ trưởng!

Minh Thắng (thực hiện)”

Xem tin gốc trên Báo điện tử Quân đội nhân dân

(Phòng Bổ trợ tư pháp)
Nguồn: Trang thông tin điện tử Sở Tư pháp TP.HCM

Những trường hợp lập vi bằng của Thừa phát lại

Để đảm bảo việc lập vi bằng được chặt chẽ, phù hợp quy định pháp luật, trong giai đoạn thực hiện thí điểm, Bộ Tư pháp ban hành Công văn số 415/BTP-TCTHA ngày 28/01/2011 hướng dẫn một số nội dung như sau:

1. Về phạm vi lập vi bằng: Thừa phát lại chưa lập vi bằng đối với một số trường hợp sau: Những việc thuộc thẩm quyền công chứng của tổ chức hành nghề công chứng; những việc thuộc thẩm quyền chứng thực của UBND các cấp; Những sự kiện, hành vi thuộc về bí mật đời tư theo quy định tại Điều 38 của Bộ luật dân sự và văn bản liên quan; những sự kiện, hành vi có tính chất nhạy cảm ảnh hưởng đến đời sống xã hội, đến thuần phong, mỹ tục của dân tộc; Nhằm xác nhận, hợp thức hóa các giao dịch trái pháp luật.

2. Theo quy định tại Khoản 2 Điều 26 Nghị định số 61/2009/NĐ-CP thì: “Vi bằng chỉ ghi nhận những sự kiện, hành vi mà Thừa phát lại trực tiếp chứng kiến; việc ghi nhận phải khách quan, trung thực”. Như vậy, Thừa phát lại không được lập vi bằng để ghi nhận những sự kiện, hành vi mà mình không trực tiếp chứng kiến hoặc những sự kiện, hành vi chỉ thông qua lời kể của người khác.

3. Để đảm bảo tính trung thực, khách quan, Thừa phát lại không được tham gia vào sự kiện, hành vi mà mình ghi nhận trong vi bằng.

4. Thừa phát lại không được thay đổi nội dung vi bằng đã được lập, trừ trường hợp phải sửa chữa lỗi kỹ thuật theo quy định tại Điều 5 của Thông tư liên tịch số 13/2010/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC ngày 7/7/2010 của Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Thừa phát lại có thể lập vi bằng để ghi nhận sự kiện mới phát sinh để bổ sung cho vi bằng trước đó.

5. Về nguyên tắc, Thừa phát lại được lập vi bằng đối với những sự kiện hành vi xảy ra trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh theo quy định của Nghị định số 61/2009/NĐ-CP ngày 24/7/2009 của Chính phủ.

Tuy nhiên, để góp phần giúp cho hoạt động Thừa phát lại thực sự có hiệu quả, thực hiện đúng mục đích của việc lập vi bằng là nhằm tạo lập chứng cứ trong quá trình giải quyết của Tòa án cũng như thực hiện các giao dịch hợp pháp khác, đồng thời không làm ảnh hưởng đến các hoạt động của các cơ quan, tổ chức khác, Bộ Tư pháp yêu cầu Thừa phát lại tập trung lập vi bằng đối với các trường hợp sau: Xác nhận tình trạng nhà liền kề trước khi xây dựng công trình; Xác nhận tình trạng nhà trước khi cho thuê nhà; Xác nhận tình trạng nhà khi mua nhà.

Xác nhận tình trạng nhà, đất bị lấn chiếm; Xác nhận việc chiếm giữ nhà, trụ sở, tài sản khác trái pháp luật; Xác nhận tình trạng tài sản trước khi ly hôn, thừa kế; Xác nhận hàng giả bày bán tại cơ sở kinh doanh, thương mại; Xác nhận việc giao hàng kém chất lượng; Xác nhận hành vi cạnh tranh không lành mạnh; Xác nhận việc tổ chức cuộc họp của Đại hội đồng cổ đông; Xác nhận mức độ ô nhiễm; Xác nhận sự chậm trễ trong thi công công trình; Xác nhận tình trạng công trình khi nghiệm thu; Xác nhận các hành vi trái pháp luật trong lĩnh vực tin học, báo chí, phát thanh, truyền hình như: đưa các thông tin không đúng sự thực; đưa thông tin khi chưa được phép người có thẩm quyền; vu khống…

Xác nhận các giao dịch mà theo quy định của pháp luật không thuộc thẩm quyền công chứng của tổ chức hành nghề công chứng; những việc không thuộc thẩm quyền chứng thực của Ủy ban nhân dân các cấp; Xác nhận tình trạng thiệt hại của cá nhân, tổ chức do người khác gây ra; Xác nhận việc từ chối thực hiện công việc của cá nhân, tổ chức mà theo quy định của pháp luật cá nhân, tổ chức đó phải thực hiện; Xác nhận các sự kiện pháp lý khác theo quy định của pháp luật.

Nguồn: Báo PLVN

Tìm hiểu về Vi Bằng

1. Vi bằng là gì ?
Vi bằng là văn bản do Thừa phát lại lập, ghi nhận sự kiện, hành vi được dùng làm chứng cứ trong xét xử và trong các quan hệ pháp lý khá.

2. Giá trị của vi bằng
Vi bằng có giá trị chứng cứ để Tòa án xem xét khi giải quyết vụ án và là căn cứ để thực hiện các giao dịch hợp pháp khác theo quy định của pháp luật.
+   Vi bằng chứng thực sự kiện, hành vi xảy ra theo yêu cầu của tổ chức, cá nhân: sự kiện giao nhận tiền, gửi thông báo đòi nhà, đòi nợ, xác lập hợp đồng, lập di chúc; hành vi vi phạm pháp luật của người khác, hành vi sử dụng nhà thuê không đúng mục đích…
+   Vi bằng ghi nhận hiện trạng các công trình liền kề, lân cận, dùng để lập hồ sơ xây dựng;
+   Vi bằng dùng làm chứng cứ để yêu cầu cơ quan bảo hiểm bồi thường;
+   Vi bằng về các sự kiện, hành vi khác xảy ra trên địa bàn thành phồ Hồ Chí Minh.

3. Thủ tục lập vi bằng:
3.1 Tiếp nhận đơn yêu cầu lập vi bằng: 
–   Khách hàng có nhu cầu lập vi bằng sẽ làm việc với thư ký nghiệp vụ. Thư ký nghiệp vụ tư vấn cho khách hàng về một số quy định pháp luật có liên quan đến vi bằng mà khách hàng muốn lập.
–   Tại đây, khách hàng điền nội dung yêu cầu lập vi bằng vào Phiếu yêu cầu lập vi bằng (theo mẫu). Thư ký nghiệp vụ có trách nhiệm kiểm tra tính hợp pháp của nội dung yêu cầu lập vi bằng và trình Thừa phát lại quyết định.
–   Thư ký nghiệp vụ đề nghị khách hàng điền vào Phiếu cung cấp thông tin (theo mẫu) những thông tin cần thiết liên quan đến việc lập vi bằng.
–   Trường hợp khách hàng yêu cầu lập vi bằng thông qua các phương tiện thông tin khác, Phiếu yêu cầu lập vi bằng, Phiếu cung cấp thông tin sẽ được thực hiện tại nơi khách hàng yêu cầu.

3.2 Thỏa thuận lập vi bằng
–   Khách hàng và Văn phòng Thừa phát lại tiến hành ký vào phiếu thỏa thuận lập vi bằng (theo mẫu), trong đó xác định: nội dung cần lập vi bằng, thời gian, địa điểm lập vi bằng, chi phí lập vi bằng… đồng thời tiến hành tạm ứng chi phí lập vi bằng.
–   Phiếu thỏa thuận lập vi bằng được lập thành 02 bản, mỗi bên giữ 01 bản. Thư ký nghiệp vụ ghi vào sổ theo dõi thỏa thuận lập vi bằng.

3.3 Tiến hành lập vi bằng
–   Vi bằng (theo mẫu) có thể được lập tại Văn phòng Thừa phát lại hoặc tại nơi mà khách hàng yêu cầu.
–   Trong trường hợp cần thiết hoặc theo yêu cầu của khách hàng, Thừa phát lại có quyền mời người làm chứng, chứng kiến việc lập vi bằng hoặc yêu cầu nhà chuyên môn tham gia vào việc lập vi bằng.
–   Thừa phát lại sẽ mô tả cụ thể sự kiện, hành vi cần ghi nhận; tiến hành đo đạc, chụp ảnh, quay phim… trung thực, khách quan trong vi bằng.
–   Trước khi ký vào vi bằng, Thừa phát lại tự mình kiểm tra lại giấy tờ tùy thân của khách hàng, người bị lập vi bằng, người làm chứng… và yêu cầu những người tham gia, chứng kiến, người có hành vi bị lập vi bằng ký tên vào vi bằng.
–   Vi bằng được đóng số theo thứ tự thời gian, ghi vào sổ theo dõi vi bằng và được lập thành 03 bản chính.

3.4 Thanh lý thỏa thuận lập vi bằng
–   Trước khi giao vi bằng, thư ký nghiệp vụ đề nghị khách hàng ký vào sổ bàn giao vi bằng và thanh lý thỏa thuận lập vi bằng.
–   Khách hàng được giao một bản chính của vi bằng.

3.5 Cung cấp bản sao vi bằng
–   Bản sao vi bằng chỉ được cung cấp trong trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu bằng văn bản về việc cung cấp bản sao vi bằng phục vụ cho việc giám sát, kiểm tra, thanh tra, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án liên quan đến việc đã lập vi bằng. Văn bản về việc cung cấp bản sao vi bằng phải được lưu trong hồ sơ vi bằng.
–   Việc cấp bản sao vi bằng do Thừa phát lại đã thực hiện vi bằng quyết định, được thực hiện tại Văn phòng Thừa phát lại sau khi đối chiếu với bản chính và đóng dấu bản sao vi bằng, đồng thời được ghi vào sổ theo dõi vi bằng.

4. Chi phí cho việc lập vi bằng
Chi phí lập vi bằng do khách hàng và văn phòng Thừa phát lại thỏa thuận theo công việc thực hiện hoặc theo giờ làm việc. Văn phòng Thừa phát lại và khách hàng có thể thỏa thuận thêm về các khoản chi phí thực tế phát sinh gồm: chi phí đi lại; phí dịch vụ cho các cơ quan cung cấp thông tin nếu có; tiền bồi dưỡng người làm chứng, người tham gia hoặc chi phí khác nếu có.
Chi phí cho từng loại vụ việc cụ thể được thực hiện theo danh mục biểu phí của Văn phòng.